Enzyme – nâng cao năng suất nuôi trồng và phòng chống các bệnh tiêu hóa

Động vật thủy sản thường thiếu một số enzyme tiêu hóa quan trọng trong giai đoạn nhỏ hoặc trong suốt giai đoạn phát triển. Việc bổ sung thêm enzyme vào khẩu phần ăn hàng ngày nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố kháng dinh dưỡng có trong thức ăn như: cải thiện khả năng sử dụng các acid amin, năng lượng; giảm thiểu độc tố trong cơ thể động vật, giảm ô nhiễm môi trường…, kết quả là sẽ cải thiện được thành tích nuôi thông qua việc rút ngắn thời gian nuôi, giảm các bệnh về đường ruột và giảm FCR.

Các chất kháng dinh dưỡng trong thức ăn ảnh hưởng như thế nào đến hệ tiêu hóa của tôm? Trước áp lực về sự thiếu hụt nguồn  đạm bột cá trên toàn cầu (nguyên liệu chính trong thức ăn thủy sản), việc sử dụng các nguồn đạm thay thế ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các nguồn đạm từ thực vật. Bột đậu nành được xem là một nguồn đạm thay thế hoàn hảo, tuy có thể thay thế 100% đạm bột cá trong khẩu phần ăn của cá rô phi nhưng khi sử dụng trên các động vật thủy sản khác lại gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, trong thức ăn cũng chứa nhiều chất phụ gia khác nhau như chất kết dính, chất chống oxy hóa, chất kháng nấm, chất tạo mùi, sắc tố, …

Thật không may là mặc dù giải quyết được các áp lực chi phí, nhưng các chất thay thế và một số chất phụ gia lại chứa nhiều “yếu tố kháng dinh dưỡng” (Antinutritional factors – viết tắt ANF). Các chất kháng dưỡng này có thể gây hại cho tôm nuôi như cản trở quá trình tiêu hóa, giảm khả năng hấp thu dưỡng chất gây nên tình trạng chậm lớn, làm đông tế bào máu, phá hủy tế bào gan tụy, ức chế hoạt động của men tiêu hóa, giảm tính ngon miệng của thức ăn, ức chế vitamin, và tạo ra các độc tố có hại cho quá trình sinh trưởng và tỷ lệ sống của vật nuôi.

Xử lý vấn đề này bằng cách gia nhiệt hoặc thủy phân các nguyên liệu thức ăn có chứa các chất kháng dinh dưỡng là giả pháp hữu hiệu, tuy nhiên nó không đồng nghĩa với việc làm “biến mất” hoàn toàn các chất kháng dưỡng này trong thức ăn thành phẩm.

Vì sao phải bổ sung enzyme vào khấu phần ăn hàng ngày cho tôm?

Enzyme cũng được ví như là nguồn “nhiên liệu” cho quá trình tiêu hóa trong cơ thể động vật nói chung. Cách đơn giản nhất để hình dung về enzyme là chúng như một “đội quân” sống trong cơ thể, tham gia “xử lý” tất cả các dạng thực phẩm đưa vào cơ thể hàng ngày và chuyển hóa chúng thành năng lượng và chất dinh dưỡng.

Mỗi một loại hợp chất có trong thức ăn sẽ có một loại enzyme riêng biệt cần thiết cho quá trình phân giải hợp chất đó trở thành dạng đơn giản hơn để cơ thể hấp thu và tăng trưởng. Chẳng hạn để phân hủy protein, enzyme protease sẽ tham gia vào quá trình, để phân hủy chất xơ cellular có trong tinh bột thì enzyme cellulase sẽ làm nhiệm vụ của nó…

Cơ thể động vật thủy sản có thể tự sản sinh enzyme quan trọng để tiêu hóa thức ăn, bên cạnh đó hệ vi sinh vật hữu ích trong đường ruột cũng tiết enzyme để tham gia vào quá trình tiêu hóa.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong thành phần thức ăn ngày nay có nhiều chất khó tiêu hóa, thậm chí cản trở quá trình tiêu hóa, do đó hàm lượng và loại enzyme nội tại cơ thể động vật thủy sản không đủ để đáp ứng quá trình phân hủy này dẫn đến các bệnh và rắc rối khác liên quan đến hệ tiêu hóa. Động vật thủy sản có thể nhiễm các bệnh phân trắng, tổn thương các thụ thể hấp thu dinh dưỡng, đi phân sống và gây ô nhiễm môi trường.

Chẳng hạn như đối với tôm, phospho phytate là một chất kháng dinh dưỡng (có trong thành phần nguyên liệu thức ăn và có nguồn gốc từ thực vật). Nếu không có enzyme Phytase (loại enzyme mà động vật thủy sản không thể tự sản sinh được) giải phóng phospho thành dạng dễ hấp thu thì phospho sẽ bị thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm hữu cơ, tạo điều kiện cho tảo lam phát triển, phát sáng nước, làm mất cân bằng phospho trong cơ thể và làm tôm kém hấp thu, chậm lớn.

Chính vì những lý do trên, ngày nay việc bổ sung enzyme từ bên ngoài vào hệ tiêu hóa của động vật thủy sản ngày càng trở nên thiết yếu. Chính vì sự đang dạng về các thành phần thức ăn khác nhau mà enzyme bổ sung vào khẩu phần ăn hàng ngày cũng cần phải đa dạng chủng loại và điều quan trọng nhất là các enzyme bổ sung vào cơ thể phải loại enzyme “còn hoạt lực”. Vì bản chất enzyme là một protein, do đó chúng cũng có khả năng bị biến tính (mất tác dụng), điều này giống như việc chúng ta cử một đội quân ốm yếu, thiếu sức chiến đấu chi viện cho chiến trường. Việc tạo ra các “enzyme nhân tạo” để bổ sung vào hệ tiêu hóa vì thế mà cũng cần có công nghệ hoàn chỉnh đến từ những tập đoàn hàng đầu thế giới.

Tại sao nên kết hợp cả Probiotic và Enzyme?

Vì vi sinh vật hữu ích trong đường ruột sản sinh ra enzyme hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa, nên nhiều người nuôi nghĩ rằng chỉ cần bổ sung enzyme là đủ vì enzyme có tác dụng ngay lập tức ngay khi đưa chúng vào khẩu phần ăn, trong khi vi sinh vật cần phải có thời gian thích nghi để gia tăng quần thể và sau đó mới có thể cung cấp đủ enzyme cho quá trình tiêu hóa. Tuy nhiên, suy nghĩ này không hoàn toàn đúng đắn. Để tạo nên tác dụng toàn diện và vượt trội thì cần bổ sung cả Enzymes và Probiotics (vinh sinh vật hữu ích) bởi giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ.

Enzyme sẽ giúp thức ăn được cắt nhỏ và phân rã thành dạng nhũ tương dễ hấp thu vào máu. Probiotics giúp đường ruột khỏe mạnh và khi đường ruột khỏe mạnh thì đương nhiên việc hấp thu diễn ra suôn sẻ hơn. Nếu thiếu enzyme, thức ăn không được tiêu hóa, thành ruột không hấp thu được, thức ăn sẽ ứ đọng trong ruột, sinh ra các chất độc tiêu diệt các vi khuẩn có ích trong ruột. Hoặc ngược lại, khi đường ruột mất cân bằng sinh học, thiếu các chủng vi khuẩn có lợi,  cũng gây nên hiện tượng giảm tiết một số loại enzyme gây cản trở tiêu hóa…Ngoài ra, trong khi việc bổ sung enzyme chỉ có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, thì việc bổ sung vi sinh vật hữu ích còn có thêm những tác dụng tích cực khác.

Ngoài ra, một số enzymes có thể hoạt động tốt trong những môi trường khác biệt trong khi một số vi sinh vật lại bị hạn chế môi trường sống hoặc bị cạnh tranh hốc liệt bởi các vi sinh vật gây hại khác hiện diện trong ống tiêu hóa.

Bảng so sánh dưới đây giữa probiotics và enzyme ứng dụng cho nuôi tôm

baiviet_enzyme

Enzyme và kháng sinh trong nuôi tôm

Kháng sinh hiện nay được khuyến cáo hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản do việc tồn dư kháng sinh ảnh hưởng đến xuất khẩu, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, người nuôi vẫn dùng để điều trị bệnh cho tôm. Khi bệnh EMS bùng phát người nuôi đã nuôi tôm với việc bổ sung kháng sinh định kỳ, mặc dù họ biết rằng đấy là một giải pháp không mang tính bền vững.
Kháng sinh gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tôm nuôi, đặc biệt là tăng trưởng.

Kháng sinh tiêu diệt hoàn toàn hệ vi sinh vật hữu ích trong hệ tiêu hóa, làm mất cân bằng enzyme và làm suy giảm hệ thống miễn dịch cơ thể. Thông thường, khi hệ sinh vật hữu ích bị tiêu diệt, hệ tiêu hóa lập tức có vấn đề, tôm giảm hấp thu, tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát triển trở lại nhanh hơn trong đường ruột.

Việc sử dụng kháng sinh cần đúng liều lượng và hiểu rõ khả năng diệt khuẩn đối với từng loại kháng sinh. Tuy vậy, ngay khi cho ăn kháng sinh, việc mất cân bằng và thiếu hụt enzyme tiêu hóa xảy ra ngay lập tức. Trong trường hợp này, giải pháp bổ sung enzyme ngoại sinh từ bên ngoài là giải pháp hết sức cần thiết để duy trì hấp thu dưỡng chất và tốc độ tăng trưởng của vật nuôi.

Một số trường hợp cần bổ sung enzyme (đối với qui trình nuôi không dùng enzyme thường xuyên) hoặc tăng liều sử dụng:

– Điều kiện môi trường bất lợi.
– Đường ruột đứt khúc, lỏng lẻo.
– Kém ăn, giảm ăn, tiêu hóa kém.
– Sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi.
– Giai đoạn sau khi hết bệnh.
– Nuôi tôm với mật độ cao (hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm môi trường)
– Phòng ngừa bệnh gan (hỗ trợ và giảm tải cho hệ thống gan tụy trong quá trình tiêu hóa).
– Vùng xung quanh bị dịch bệnh (nhằm hỗ trợ tăng cường sức mạnh của hệ miễn dịch).


Phòng kĩ thuật – Công ty TNHH TM DV XNK Nam Thành

Đăng trong: Tin mới, Tin Tức

Bài viết liên quan

CÔNG NGHỆ TẠO BỌT KHÍ NANO

CÔNG NGHỆ TẠO BỌT KHÍ NANO

Ứng dụng công nghệ bọt khí micro nano trong nuôi tôm được đánh giá cho hiệu quả cao, đảm bảo hàm lượng…